Tranh luận nội bộ Trung Quốc về chính sách Biển Đông

Published on June 24, 2013   ·   1 Comment

tapcanbinh1

 

Những năm gần đây là một giai đoạn đầy ắp sự kiện đối với tranh chấp Biển Đông. Vào năm 2009, việc các bên khác nhau đệ trình các yêu sách đối với thềm lục địa mở rộng lên Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Ranh giới Thềm lục địa đã khởi đầu cho một cuộc chiến ngoại giao nảy lửa. Đặc biệt, hành động của Trung Quốc trong việc đệ trình bản đồ đường chín đoạn ở Biển Đông lên Liên Hợp Quốc đã làm bùng lên sự phản đối mạnh mẽ từ các quốc gia tranh chấp khác. Sự đối đầu ngoại giao ở Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) vào năm 2010 ở Hà  Nội, đặc biệt là giữa các quan chức Mỹ và Trung Quốc, đã đánh dấu sự gia tăng căng thẳng chưa từng có đối với vấn đề Biển Đông trong vòng hơn một thập kỷ. Nửa đầu năm 2011, hàng loạt các sự cố, bao gồm việc Bắc Kinh phản ứng nặng tay với các hoạt động khai thác năng lượng và hải sản của Philippines và Việt Nam ở Biển Đông, càng làm quan hệ giữa các bên tranh chấp ngày càng xấu đi. Kết quả là mối bang giao giữa Trung Quốc và các quốc gia tranh chấp trong ASEAN càng trở nên tồi tệ và các cường quốc bên ngoài ngày càng can thiệp sâu hơn vào vấn đề Biển Đông.

Áp lực về ngoại giao và chiến lược nặng nề đặt lên vai Bắc Kinh đã thúc đẩy giới làm chính sách và các nhà phân tích Trung Quốc chú ý hơn đến vấn đề tranh chấp, khiến họ phải nghiên cứu chính sách của các quốc gia khác và đưa ra những phản ứng thích hợp cũng như các lựa chọn chính sách trong tương lai. Bài viết này nhằm cung cấp một cái nhìn tổng quan về những tranh luận ở Trung Quốc đối với ba lĩnh vực: (1) cách thức các trường phái tư tưởng khác nhau nhìn nhận các tranh chấp ở Biển Đông, (2) những dạng đề xuất chính sách được đưa ra, và (3) những vùng đồng thuận và gây bất đồng. Bài viết cũng cố gắng phân tích cách thức mà những cuộc tranh luận này liên quan đến lập trường chính thức của Trung Quốc cũng như các chính sách và động thái thực tế của Trung Quốc đối với tranh chấp. Là bên tranh chấp mạnh nhất và đã từng tham gia ba cuộc xung đột quân sự liên quan đến tranh chấp lãnh thổ này, chính sách của Trung Quốc có vai trò quan trọng trong việc hình thành các diễn biến trong tương lai của cuộc tranh chấp cũng như xung lực của an ninh khu vực. Từ cái nhìn toàn diện này, chúng ta có thể có được một vài manh mối hữu ích để hiểu rõ thêm phản ứng của Trung Quốc đối với tranh chấp ở Biển Đông trong những năm sắp tới.

Có bốn chủ đề đáng lưu ý nổi lên từ cuộc tranh luận ở Trung Quốc. Đầu tiên, đối lập với sự phê phán phổ biến từ bên ngoài về sự hung hăng ngày càng tăng của Trung Quốc, đa số quan điểm của những nhà phân tích Trung Quốc cho rằng sự căng thẳng và các tranh chấp chủ yếu là do sự câu kết giữa Mỹ và những bên yêu sách khác trong khu vực. Thứ hai, họ cũng cho rằng Trung Quốc cần chủ động hơn trên Biển Đông nhằm thay đổi trạng thái bị động hiện tại. Theo đó, Trung Quốc có thể thực hiện được mục tiêu này bằng việc chủ động trong ba lĩnh vực: tăng tốc khai thác tài nguyên ở Biển Đông; hạn chế sự can dự của Mỹ trong vấn đề Biển Đông; và linh hoạt hơn trong việc áp dụng chủ nghĩa đa phương nhằm giải quyết các thách thức an ninh phi truyền thống khác nhau ở Biển Đông. Thứ ba, đa số những nhà nghiên cứu và quan chức Trung Quốc tin rằng các tranh chấp xung quanh Biển Đông trong những năm qua đã khiến cho môi trường an ninh khu vực của Trung Quốc bị xấu đi. Thứ tư, dường như có một sự đồng thuận đang gia tăng cho rằng Bắc Kinh nên thi hành một chính sách Biển Đông ôn hòa, phù hợp hơn trong thời gian sắp tới.

Người ta cho rằng có hai phe chính trong cuộc tranh luận ở Trung Quốc: phe cứng rắn và phe ôn hoà.[1] Nghiên cứu này cho rằng còn có một luồng quan điểm trung dung đáng lưu ý cho rằng cần có các chính sách cứng rắn hơn nhằm bảo vệ quyền lợi của Trung Quốc tốt hơn, đồng thời cần duy trì tình trạng không có đối đầu với các cường quốc bên ngoài cũng như các quốc gia tranh chấp khác trong khu vực. Dựa vào những phát hiện này, nghiên cứu kết luận rằng Bắc Kinh có thể sẽ thi hành chính sách cứng rắn nhưng tránh đối đầu trong tranh chấp Biển Đông trong thời gian sắp tới.

Các quan điểm của Trung Quốc về nguồn gốc căng thẳng ở Biển Đông

Nhìn chung, dường như có ba luồng quan điểm chính về nguồn gốc căng thẳng ở Biển Đông trong thời gian gần đây. Nhiều học giả bên ngoài Trung Quốc cho rằng Trung Quốc đã thi hành một chính sách cương quyết ở vùng Biển Đông – dẫn đến căng thẳng trong khu vực.[2] Quan điểm này được thừa nhận rộng rãi bởi truyền thông quốc tế cũng như nhiều nhà quan sát và quan chức nước ngoài. Một số ít các nhà quan sát quốc tế lập luận rằng Trung Quốc, trong nhiều trường hợp, chỉ đơn giản là đã phản ứng lại những hành động của các bên tranh chấp khác mà Bắc Kinh cho là đang thách thức quyền lợi và yêu sách của mình trong cuộc tranh chấp.[3] Cuộc tranh luận ở Trung Quốc đã hé lộ một quan điểm thứ ba, cho thấy sự khác biệt về nhận thức đáng kể giữa Trung Quốc và thế giới bên ngoài về nguồn gốc của các căng thẳng và xung đột ở Biển Đông trong những năm gần đây. Quan điểm chủ đạo ở Trung Quốc cho rằng các quốc gia tranh chấp khác và Mỹ đã câu kết để chống lại Trung Quốc. Trung Quốc dường như tin rằng sự câu kết này là nguyên nhân của căng thẳng và xung đột ở Biển Đông từ năm 2009.[4]

Các chuyên gia Trung Quốc thường cho rằng yếu tố cốt lõi trong tranh chấp Biển Đông trong những năm gần đây chính là chiến lược “trở lại châu Á”[5] của Washington. Dường như nhiều người Trung Quốc cho rằng mục tiêu chính của chiến lược “trở lại châu Á” là để ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc. Ví dụ, quan điểm của Thiếu tướng hải quân (đã nghỉ hưu) Yang Yi thể hiện rõ tình cảm bài Mỹ ở Trung Quốc. Ông Yang buộc tội Mỹ về việc “đẩy mạnh chính sách ngăn chặn Trung Quốc đã có lâu nay: một mặt, họ (Washington) muốn Trung Quốc đóng vai trò nào đó trong các vấn đề an ninh khu vực, mặt khác, lại dần thắt chặt sự bao vây Trung Quốc và liên tục thách thức những lợi ích cốt lõi của Trung Quốc”.[6] Nhóm các nhà phân tích Trung Quốc này cho rằng ủng hộ những nước có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc là một phần chiến lược của Washington.[7] Họ chỉ ra rằng sự can dự ngày càng nhiều vào tranh chấp Biển Đông của Mỹ cũng được cổ xuý bởi các quốc gia trong khu vực như Việt Nam và Philippines.[8] Nhiều tuyên bố chính thức của Trung Quốc đã minh chứng cho cách giải thích này.[9]

Nhiều nhà phân tích cũng tìm cách xem xét toàn diện các nguyên nhân dẫn đến căng thẳng ở Biển Đông. Theo một bài báo trên Nhân dân Nhật báo, có ba nhân tố tạo nên căng thẳng gia tăng ở Biển Đông trong những năm gần đây. Thứ nhất, các quốc gia lân cận ngày càng chú ý khai thác nguồn lợi kinh tế, đặc biệt là tài nguyên năng lượng ở Biển Đông. Bài báo đặc biệt đề cập đến việc doanh thu dầu và khí của Việt Nam chiếm đến 24 phần trăm tổng GDP nước này trong năm 2010. Thứ hai, đó là sự dịch chuyển chiến lược sang Đông Á của Mỹ. Washington đã sử dụng Biển Đông như một con bài để duy trì vị thế an ninh vượt trội trong khu vực và điều này trùng khớp với mong muốn của nhiều quốc gia lân cận trong việc quốc tế hoá vấn đề Biển Đông. Thứ ba, sự trỗi dậy nhanh chóng của Trung Quốc đã khiến cho các quốc gia láng giềng tìm cách lôi kéo Mỹ vào nhằm cân bằng lại sự trỗi dậy này.[10] Luận điểm cuối cùng, có phần nào nhìn vào bản thân Trung Quốc để mổ xẻ vấn đề, dù không được nhiều nhà phân tích ở Trung Quốc chia sẻ nhưng lại được chấp nhận bởi một số chuyên gia Đông Nam Á ở Trung Quốc. Theo ông Ma Yanbing, một chuyên gia Đông Nam Á tại Viện Quan hệ Quốc tế Đương đại Trung Quốc (CICIR), sự gia tăng quyền lực của Trung Quốc, đặc biệt là sức mạnh hải quân, đã khiến Việt Nam lo sợ. Điều này khiến cho lãnh đạo Việt Nam nghĩ rằng họ nên chớp lấy cơ hội cuối cùng để xử lý ván bài Biển Đông trước khi Trung Quốc trở nên quá mạnh.[11]

Những năm gần đây, một đề tài thường xuyên được chú ý về tranh chấp Biển Đông là các quan ngại về tự do hàng hải. Một luận điểm phổ biến được các chuyên gia phân tích Trung Quốc thường xuyên đưa ra là Washington đã dựng nên câu chuyện “tự do hàng hải” và sử dụng nó như một công cụ để gây áp lực cho Trung Quốc. Họ cho rằng Mỹ đã đưa ra một giả thuyết sai trái về mối đe doạ tự do hàng hải ở Biển Đông. Họ tin rằng Mỹ chỉ đơn giản đang niệm câu thần chú “tự do hàng hải” như một cái cớ để xen vào ở tranh chấp Biển Đông nhằm duy trì ưu thế quân sự vượt trội của Mỹ trong khu vực.[12] Nhiều chuyên gia Trung Quốc tin rằng luận điệu của Mỹ về tự do hàng hải ở Biển Đông là nhằm nhấn mạnh lập trường của Mỹ về việc tự do tiến hành các hoạt động trinh thám quân sự ở vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc, như sự cố tàu Impeccable đã chứng minh.[13]

Một bài báo trong Thời báo Quốc phòng chỉ ra rằng Mỹ đã tung ra hàng loạt những tàu giám sát quân sự để thu thập thông tin tình báo từ các quốc gia ven Biển Đông, đe doạ nghiêm trọng cho an ninh của các quốc gia này. Tác giả tuyên bố rằng “sự tự do hàng hải thật sự mà Mỹ muốn đảm bảo chính là sự tự do của Mỹ trong việc đe doạ quân sự các quốc gia khác”.[14] Quan điểm này dường như cũng phản ánh lập trường chính thức của Trung Quốc. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Dương Khiết Trì (Yang Jiechi) tại Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) vào tháng Bảy năm 2010 đã phản pháo lại tuyên bố của bà Hillary Clinton về Biển Đông bằng việc phủ nhận tự do hàng hải là một vấn đề. Sau đó, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã nhiều lần nói rằng Washington chỉ sử dụng luận điệu về tự do hàng hải nhằm trục lợi về mặt chiến lược và ngoại giao mà thôi.[15]

Xác định cách tiếp cận

Sự gia tăng những quan điểm cứng rắn

Các căng thẳng và tranh chấp trong những năm gần đây đã làm gia tăng tinh thần dân tộc ở Trung Quốc. Những cư dân mạng Trung Quốc thường thể hiện cái nhìn hết sức cứng rắn với những quốc gia tranh chấp khác, đặc biệt là Việt Nam, Philippines cũng như Mỹ. Họ chỉ trích chính phủ Trung Quốc đã quá nhu nhược trong vấn đề Biển Đông.[16] Một lá thư của độc giả gửi đến tờ National Defence Times với tựa đề “Nếu hiện tại không mạnh tay ở Biển Đông, sẽ không có bất cứ cơ hội nào trong tương lai” đã phản ánh cái nhìn diều hâu của một bộ phận đáng kể công luận Trung Quốc.[17] Tờ Thời báo Hoàn Cầu của Trung Quốc, vốn có tiếng trong việc thu lợi từ việc kinh doanh chủ nghĩa dân tộc, đã xuất bản nhiều bài báo và xã luận có quan điểm gay gắt về việc gia tăng căng thẳng ở Biển Đông trong hai năm trở lại đây. Một bài xã luận thu hút được nhiều sự chú ý đã trình bày như sau:

… một vài quốc gia láng giềng của Trung Quốc đã lợi dụng những chính sách đối ngoại mềm dẻo của Trung Quốc, biến nó thành cơ hội vàng để mở rộng lợi ích khu vực của họ… Hiện tại, theo như quan điểm chính thống, trước hết Trung Quốc nên thông qua những kênh đàm phán chính để giải quyết tranh chấp biển với các quốc gia khác. Nhưng nếu tình huống chuyển biến xấu đi, thì cần phải có những hành động quân sự… Nếu những quốc gia này không muốn thay đổi cách đối xử của họ với Trung Quốc, họ sẽ phải đối mặt với nguy cơ chiến tranh. Chúng ta cần sẵn sàng cho điều này, bởi vì nó có thể là cách duy nhất để giải quyết vấn đề tranh chấp biển.[18]

Có vẻ như giới quân sự Trung Quốc cũng đã lựa chọn một lập trường cứng rắn đối với tranh chấp Biển Đông. Không lâu sau những mâu thuẫn giữa Trung Quốc và Mỹ ở Diễn đàn ARF vào tháng 7 năm 2010 tại Hà Nội, Hải quân Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đã tổ chức một cuộc diễn tập quy mô lớn ở Biển Đông. Tổng tham mưu trưởng PLA Chen Bingde đã nói rằng: “chúng ta phải đặc biệt chú ý sự thay đổi tình hình (ở khu vực) và sự gia tăng nhiệm vụ của chúng ta; tự thân chuẩn bị cho đấu tranh quân sự”.[19]  Ba hạm đội của PLA đã tiến hành một cuộc diễn tập chung thay vì tiến hành các cuộc tập trận riêng rẽ như thường lệ trong suốt lễ kỷ niệm thành lập PLA vào ngày 1 tháng 8. Xu Guangyu, chuyên gia cấp cao tại Hiệp hội Kiểm soát Vũ khí và Giải trừ Quân bị Trung Quốc, cho rằng đây là phản ứng của PLA đối với “một đòi hỏi chiến lược”.[20] Thiếu tướng Luo Yuan thì cho rằng: “Trung Quốc là một nạn nhân của tranh chấp Biển Đông, tuy nhiên Trung Quốc đã nhẫn nhịn. Các quốc gia tranh chấp lân cận không nên tiếp tục lấn tới… Nếu không thì hậu quả có thể trầm trọng hơn là sự đe doạ suông.”[21]

Sự ôn hoà có tính toán

Giữa những tuyên bố và bình luận hiếu chiến, Trung Quốc nhận thức rõ được những tác động tiêu cực của các diễn biến ở Biển Đông đối với quan hệ an ninh của nó trong khu vực. Sách trắng thường niên về ngoại giao Trung Quốc, được xuất bản bởi Bộ Ngoại giao Trung Quốc, và Sách xanh về Châu Á – Thái Bình Dương (Asia-Pacific Blue Paper), được phát hành bởi Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc (CASS) vào tháng 1 năm 2011 đã cho rằng Trung Quốc đang phải đối mặt với các thách thức an ninh chưa từng có trong năm 2010.[22] Một nhóm chuyên gia ở CASS cũng kết luận rằng việc Mỹ “trở lại châu Á” đã gây nguy hiểm cho mối quan hệ giữa Trung Quốc với các nước láng giềng bằng cách tạo ra hàng rào ngăn cách giữa hai bên, làm suy giảm lòng tin chính trị và tạo ra sự phức tạp mới.[23] Tuy nhiên, nhiều chuyên gia Trung Quốc vẫn giữ thái độ điềm đạm và ủng hộ một cách tiếp cận ít nhiều thận trọng đối với vấn đề Biển Đông.

Vào đầu tháng 6 năm 2011, một số viện nghiên cứu chính sách đáng chú ý, bao gồm CASS, Hội Thái Bình Dương của Trung Quốc, Quỹ Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược của Trung Quốc, Đại học Nhân Dân, Học viện Thương Hải về Nghiên cứu Quốc tế, phối hợp tổ chức một diễn đàn về các vấn đề an ninh liên quan đến Trung Quốc và khu vực Thái Bình Dương. Quan điểm bao trùm của diễn đàn, được tham dự bởi một số nhà phân tích Trung Quốc hàng đầu, đã khác biệt rõ rệt với thái độ cứng rắn và hiếu chiến như miêu tả ở phần trên. Ví dụ, Liu Jiangyong, một nhà phân tích an ninh tại Đại học Thanh Hoa, chỉ ra rằng Trung Quốc nên nỗ lực dung hoà vị thế “ẩn mình chờ thời” (tao guang yang hui) với việc “đạt được điều gì đó” (you suo zuo wei) trong tranh chấp Biển Đông. Ông cũng đưa ra một gợi ý đúng đắn cho chính sách an ninh Trung Quốc ở Đông Á: hợp tác lâu dài, phát triển lâu dài và an ninh bền vững, đồng thời ngăn chặn các mối đe dọa thông qua hợp tác, và thúc đẩy hợp tác trong khi ngăn chặn các mối đe dọa.[24]

Nhiều nhà phân tích ở Trung Quốc bác bỏ thẳng thừng phương án sử dụng vũ lực ở Biển Đông. Họ cho rằng việc sử dụng vũ lực là không thực tế vì những hạn chế của Trung Quốc. Học giả đến từ Hải Nam Ngô Sĩ Tồn (Wu Shicun) nhấn mạnh rằng Trung Quốc phải biết cân bằng giữa việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình với việc gìn giữ ổn định ở Biển Đông, đồng thời hướng đến sự ổn định toàn cục ở Biển Đông nhằm giữ vững giai đoạn cơ hội chiến lược. Vì thế, ông tin rằng trong tương lai, việc giải quyết vấn đề Biển Đông sẽ nhiều khả năng thông qua biện pháp hoà bình, đặc biệt là thông qua đàm phán dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế và luật biển đương đại.[25] Thứ hai, việc sử dụng vũ lực có thể khiến Trung Quốc rơi vào cái bẫy của Mỹ. Một học giả Trung Quốc cho rằng sự can thiệp của Mỹ ở Biển Đông có thể là một âm mưu của Mỹ để lôi kéo Trung Quốc vào một cuộc chiến tranh khu vực dai dẳng nhằm làm suy yếu Trung Quốc. Ông cho rằng chính vì lý do này mà Trung Quốc nên thận trọng. Hơn nữa, Trung Quốc vẫn còn kém xa Mỹ, nên cần nhiều thời gian hơn để phát triển quốc gia. Vì vậy, ông kết luận rằng Trung Quốc hoàn toàn không cần thiết và quá mạo hiểm khi tham gia vào xung đột quân sự.[26] Thứ ba, xung đột quân sự ở Biển Đông có thể làm chệch hướng chú ý của Trung Quốc khỏi tranh chấp đối với Đài Loan. Từ quan điểm địa chính trị, Trung Quốc nên duy trì quan tâm an ninh chủ yếu của mình vào Đài Loan và Nhật Bản trong khi tìm cách xây dựng các quan hệ đối tác ở Đông Nam Á. Một khi Trung Quốc vẫn chưa giải quyết xong vấn đề tranh chấp Đài Loan và đảo Điếu Ngư, Trung Quốc nên tránh đối đầu với các quốc gia Đông Nam Á.[27]

Xue Li, một nhà chiến lược ở CASS cũng chứng minh rằng việc sử dụng bạo lực ở Biển Đông sẽ lôi Trung Quốc vào nhiều hệ quả khó khăn khác: áp lực ngoại giao nặng nề từ cộng đồng quốc tế về việc Trung Quốc thách thức luật pháp quốc tế, phá huỷ môi trường khu vực ổn định cho sự phát triển hoà bình của Trung Quốc, và làm mất đi giai đoạn cơ hội chiến lược cho sự phát triển xa hơn của quốc gia.[28] Bác bỏ việc sử dụng vũ lực, các nhà phân tích khác nhấn mạnh việc Trung Quốc cần tiếp tục sử dụng phương thức hoà bình để giải quyết tranh chấp, và can dự quân sự với các quốc gia trong khu vực để nâng cao sự tin tưởng lẫn nhau. Họ thúc giục Trung Quốc làm việc với các quốc gia tranh chấp khác để giảm căng thẳng và đạt được một số đột phá trong đàm phán nhằm tránh việc Mỹ có cớ để can thiệp.[29]

Cách xử lý chính thức các tranh chấp

Ở mức độ chính thức, phía Trung Quốc kiên định các yêu sách của mình ở Biển Đông và bảo vệ các hành động quyết liệt chống lại các bên tranh chấp khác. Cùng lúc đó, Bắc Kinh cũng tranh thủ cơ hội để cải thiện quan hệ với các quốc gia tranh chấp khác. Dù sao đi nữa, cách xử lý chính thức các cuộc khủng hoảng Biển Đông trong những năm gần đây đã phản ánh các chính sách mà các học giả ôn hoà ủng hộ. Bộ Ngoại giao Trung Quốc cũng là cơ quan giữ vai trò chủ đạo trong xử lý tranh chấp Biển Đông và họ luôn ủng hộ chính sách mang tính ôn hòa. Khi được hỏi ý kiến về nội dung của bài xã luận nêu trên của Thời báo Hoàn Cầu, người phát ngôn Bộ Ngoại giao cho rằng các cơ quan truyền thông có quyền biên tập và bình luận. Bà cũng nói thêm rằng bà tin truyền thông Trung Quốc sẽ đưa tin một cách trung thực, khách quan và có trách nhiệm. Sau đó bà nhắc lại ý định hoà bình của Trung Quốc đối với các nước láng giềng và nhấn mạnh các cuộc đàm phán là cách thức tốt hơn nhằm giúp ổn định tình hình.[30] Nhận định của bà có thể được xem như là sự không đồng ý với bài xã luận của Thời báo Hoàn Cầu.

Các quan chức Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã nỗ lực bảo vệ chính sách bị cho là nhu nhược này. Một quan chức Ngoại giao tên là Zhang Yan đã phản bác lại những chỉ trích cho rằng chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông là quá yếu ớt tại diễn đàn hồi tháng 6 năm 2011. Bà bảo vệ chính sách của Trung Quốc trên cơ sở cho rằng chính sách đối ngoại Trung Quốc là để phục vụ cho mục tiêu tạo dựng một xã hội khá giả trong nước.[31] Nguyên Vụ trưởng Vụ Châu Á tại Bộ Ngoại giao Trung Quốc Zhang Jiuheng cũng bảo vệ cho chính sách này rằng: “Vấn đề Biển Đông thật sự rất phức tạp. Chúng ta cần thừa nhận sự tồn tại của tranh chấp… Không ai muốn thấy căng thẳng trong khu vực. Không ai mong muốn có xung đột quân sự trong khu vực cả.”[32] Đáp lại lời kêu gọi trong nước đòi Trung Quốc lựa chọn lập trường cứng rắn hơn trong các vấn đề quốc tế, Uỷ viên Quốc vụ viện Đới Bỉnh Quốc (Dai Bingguo) đã đăng một bài trên tờ Nhân dân Nhật báo vào tháng 12 năm 2010, trong đó ông có đề cập rằng: “nếu chúng ta không thể xử lý đúng đắn các mối quan hệ với thế giới bên ngoài, cơ hội phát triển trong 20 năm của thế kỷ mới được gầy dựng nên bởi nền hoà bình quốc tế, sự ổn định tổng thể trong quan hệ giữa các cường quốc và sự phát triển nhanh chóng của khoa học – công nghệ, sẽ bị đánh mất”.[33]

Sự bất đồng ngoại giao tại ARF năm 2010 ở Hà Nội đã thúc đẩy Bắc Kinh nhìn nhận nghiêm túc vấn đề Biển Đông, đặc biệt là chính sách mang tính can thiệp ngày càng nhiều của Mỹ. Sau mùa hè năm 2010, Trung Quốc bắt đầu có nhiều hành động để xoa dịu tranh chấp ở Biển Đông. Các bên tranh chấp khác đã phản ứng tích cực trước những nỗ lực ngoại giao này. Vào tháng 8, Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam Nguyễn Chí Vinh đã đến thăm Bắc Kinh và một lần nữa cam đoan với Trung Quốc về các ý định và cam kết ôn hoà của Việt Nam. Ông tỏ ý rằng Việt Nam sẽ không theo đuổi ba hành động sau: tham gia liên minh với quốc gia khác; cho phép thiết lập các căn cứ nước ngoài ở Việt Nam; và phát triển mối quan hệ với các nước khác nhằm chống lại bên thứ ba.[34] Tại Hội nghị thượng đỉnh Trung Quốc –ASEAN vào tháng 10, thủ tướng Ôn Gia Bảo đã xác nhận lại rằng Trung Quốc sẵn sàng làm việc với các quốc gia ASEAN để thực hiện Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC). Tại cuộc họp bộ trưởng quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM Plus) lần đầu tiên, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt (Liang Guanglie) đã phản hồi nhẹ nhàng khi vấn đề Biển Đông được đưa ra. Vào tháng 10, Thứ trưởng Ngoại giao Trương Chí Quân (Zhang Zhijun) đã thăm bốn nước ASEAN trong một chuyến đi tìm kiếm sự thật. Vào tháng 11, Phó Chủ tịch nước Tập Cận Bình, trong một chuyến thăm Singapore, đã cố gắng đảm bảo với các nước về khuynh hướng hoà bình của Trung Quốc trong khu vực.

Tới cuối năm 2010, nhiều nhà quan sát trông chờ một giai đoạn tương đối hoà dịu ở Biển Đông vì các quốc gia tranh chấp đã bắt đầu đàm phán về dự thảo bản hướng dẫn thực hiện DOC. Tuy nhiên, một loạt các hành động của các cơ quan chấp pháp Trung Quốc chống lại các hoạt động kinh tế của Philippines và Việt Nam ở Biển Đông một lần nữa lại thổi bùng mâu thuẫn từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2011. Trước khi mâu thuẫn leo thang, Bắc Kinh và Hà Nội đã đồng ý đàm phán. Tháng 6 năm 2011, Việt Nam đã cử đặc phái viên đến Bắc Kinh. Hai bên đồng ý về những điểm sau: giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán; kiềm chế không thực hiện những hành động có thể làm căng thẳng leo thang; chống lại sự can thiệp từ bên thứ ba; và chủ động định hướng dư luận ở mỗi nước.[35] Cuối tháng 8, các quan chức quốc phòng Việt Nam và Trung Quốc gặp nhau ở Bắc Kinh và thảo luận cách thức giảm căng thẳng ở Biển Đông. Một số quan chức cấp cao của cả hai nước tiếp tục gặp nhau ở Hà Nội vào đầu tháng 9 để tham dự cuộc họp lần thứ năm của Uỷ ban chỉ đạo quan hệ Trung Quốc – Việt Nam. Cả hai nước đều nắm lấy cơ hội này để làm giảm căng thẳng. Tuyên bố chung được đưa ra bởi các đồng chủ tịch của ủy ban, Ủy viên Quốc vụ Đới Bỉnh Quốc và Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, đều mang giọng hoà giải, cả hai bên cam kết sẽ chấp hành DOC.

Sau vài tháng đàm phán, Bắc Kinh cuối cùng đã quyết định ký kết văn bản này với ASEAN vào tháng 7 năm 2011 tại Hội nghị Ngoại trưởng Trung Quốc – ASEAN. Trung Quốc cam kết hợp tác với các quốc gia tranh chấp khác để thực hiện DOC và đề xuất đứng ra tổ chức một hội thảo về tự do hàng hải ở Biển Đông cũng như thiết lập ba ủy ban kỹ thuật về nghiên cứu khoa học biển và bảo vệ môi trường, an toàn hàng hải và tìm kiếm và cứu nạn, và chống tội phạm xuyên quốc gia trên biển.[36] Sau khi bản hướng dẫn được thông qua, tờ Nhân dân Nhật báo đã nhận định rằng: “Điều này có lợi cho hoà bình và ổn định ở Biển Đông và sẽ đóng vai trò quan trọng đối với việc giải quyết các tranh chấp lãnh thổ và phân định các vùng biển của Biển Đông giữa các quốc gia liên quan. Nó chứng tỏ rằng Trung Quốc và các nước ASEAN đã có quyết tâm, niềm tin cũng như khả năng thúc đẩy hoà bình và ổn định ở Biển Đông.”[37]

Chuyến thăm của lãnh đạo Đảng Việt Nam đến Trung Quốc vào tháng 10 năm 2011 là một cột mốc đáng kể. Trong chuyến thăm này, cả hai nước đã quyết định thiết lập một đường dây nóng giữa lãnh đạo hai nước, một chỉ dấu cho thấy mối quan tâm chung trong việc ngăn chặn những khủng hoảng trong tương lai. Hai nước cũng đồng ý thắt chặt hợp tác quân sự qua nhiều phương thức: tiếp tục đối thoại chiến lược ở cấp thứ trưởng quốc phòng; chuẩn bị thiết lập đường dây điện thoại trực tiếp giữa bộ quốc phòng hai nước, mở rộng giao lưu trao đổi giữa những sĩ quan trẻ, thăm dò tính khả thi của việc tiến hành tuần tra chung dọc biên giới; tiếp tục tuần tra hải quân chung tại Vịnh Bắc Bộ, và gia tăng các chuyến thăm cảng lẫn nhau của hải quân hai bên. Trong thỏa thuận về nguyên tắc cơ bản cho việc giải quyết tranh chấp biển, Trung Quốc và Việt Nam cam kết tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài cho các tranh chấp. Cả hai bên cũng đồng ý thảo luận những giải pháp tạm thời mà không ảnh hưởng đến lập trường và yêu sách của mỗi bên, bao gồm cả việc khai thác chung. Hai nước đều đồng ý trước tiên cần giải quyết các vấn đề ít mâu thuẫn trước, bao gồm việc phân định ranh giới và khai thác chung khu vực phía Nam cửa Vịnh Bắc Bộ, hợp tác bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu biển, tìm kiếm và cứu nạn cũng như ngăn ngừa và cứu trợ thiên tai. Trung Quốc và Việt Nam cũng đồng ý để trưởng đoàn đàm phán về biên giới gặp gỡ thường xuyên và thiết lập đường dây nóng để trao đổi nhằm giải quyết các xung đột trên biển một cách kịp thời và hiệu quả.[38]

Trong chuyến thăm của Tổng thống Philippines Aquino đến Trung Quốc vào cuối tháng 8 và đầu tháng 9 năm 2011, cả hai nước đều làm nhẹ những tranh chấp của họ ở Biển Đông. Tuyên bố chung được công bố trong chuyến thăm chỉ đề cập ngắn gọn rằng tranh chấp biển không nên ảnh hưởng đến mối quan hệ hợp tác song phương giữa hai nước. Lãnh đạo hai bên lặp lại rằng họ sẽ giải quyết tranh chấp qua đàm phán hoà bình và tuân thủ DOC.[39] Theo đó, Trung Quốc và Philippines tập trung vào việc thắt chặt kinh tế. Hai trăm doanh nhân Philippines cũng đã tháp tùng chuyến đi của Tổng thống Aquino. Trong chuyến đi, nhiều đề xuất cho việc tăng cường hợp tác kinh tế cũng được công bố. Cả hai bên đều thể hiện sự quan tâm chung đối với các liên doanh khai thác mỏ ở Philippines vốn có thể thu hút từ 2 đến 7 tỷ đô la Mỹ đầu tư từ Trung Quốc.[40] Bắc Kinh và Manila tuyên bố sẽ gia tăng mức thương mại song phương lên 60 tỷ đô la Mỹ và nâng số khách du lịch lên 2 triệu người vào năm 2016.[41]

Tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN – Trung Quốc vào tháng 11/2011, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo cho rằng Trung Quốc sẽ tiếp tục là một láng giềng tốt, người bạn tốt và đối tác tốt của ASEAN, nhấn mạnh Trung Quốc sẵn sàng làm việc với các quốc gia ASEAN để hướng đến việc thực thi toàn diện DOC. Ông nói thêm rằng Trung Quốc cũng sẵn sàng thảo luận soạn thảo Bản Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) và cam kết sẽ gia tăng viện trợ của Trung Quốc và hợp tác kinh tế với ASEAN. Ông đề nghị gửi nhiều nhóm doanh nghiệp đến ASEAN để gia tăng thương mại và đầu tư, thiết lập một trung tâm trưng bày sản phẩm ASEAN ở Nam Ninh (thành phố trung tâm của Quảng Tây), và thúc đẩy hơn nữa kết nối đường biển và đường bộ giữa Trung Quốc và Đông Nam Á. Ông Ôn cũng cam kết cung cấp các khoản vay trị giá 10 tỷ đô la Mỹ (bao gồm 4 tỷ đô la Mỹ vay ưu đãi) cho các dự án cơ sở hạ tầng ở các nước ASEAN và một quỹ hợp tác biển Trung Quốc-ASEAN với số tiền 3 tỷ nhân dân tệ để hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu khoa học biển và bảo vệ môi trường biển, vận tải đường biển, an toàn hàng hải, tìm kiếm cứu nạn, và hoạt động chống tội phạm xuyên quốc gia.[42] Tại Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á, ông Ôn đã không phản bác lại phát biểu của Tổng thống Obama và những lãnh đạo khác. Thay vào đó, ông xác nhận lại tự do hàng hải ở Biển Đông. Ông cũng thể hiện cái nhìn tích cực về DOC và lặp lại quan điểm chính thức của Trung Quốc về việc tìm kiếm một giải pháp hoà bình cho các tranh chấp với các nước có liên quan.[43]

Nhiều nhà quan sát đồng ý rằng các cơ quan chấp pháp biển Trung Quốc đã trở nên hung hăng và cứng rắn hơn trong việc bảo vệ những gì được cho là lợi ích của nước họ trên Biển Đông. Trong khi nhận định này là đúng, cũng cần phải để ý rằng các tàu tuần tra của Trung Quốc dường như thể hiện thái độ thận trọng ít nhiều. Vào ngày 2 tháng 3 năm 2011, sau khi cảnh báo tàu khảo sát của Philippines MV Veritas Voyager hoạt động gần Bãi Cỏ Rong (Reed Bank), hai tàu tuần tra của Trung Quốc đã nhanh chóng rời khỏi hiện trường trước khi máy bay và tàu của lực lượng tuần duyên Philippines đến. Những tàu tuần tra này sau đó đã không trở lại hiện trường để tiếp tục quấy rối tàu của Philippines.

Các trường hợp tàu Trung Quốc cắt cáp của tàu khảo sát dầu khí Việt Nam vào tháng 5 và tháng 6 năm 2011 lại phản ánh sự khác biệt nhỏ trong cách thức Trung Quốc giải quyết hai sự kiện. Sự kiện đầu tiên vào cuối tháng 5, thuỷ thủ đoàn trên một tàu hải giám Trung Quốc đã cắt dây cáp của tàu khảo sát của Việt Nam. Trường hợp thứ hai vào đầu tháng 6, người Trung Quốc cố gắng tinh vi hơn. Theo người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc, các tàu cá của Trung Quốc đã bị tàu có vũ trang của Việt Nam truy đuổi, và trong khi chạy trốn, lưới đánh cá của một trong những tàu Trung Quốc đã bị vướng vào dây cáp tàu khảo sát dầu Việt Nam. Tàu cá Trung Quốc đã bị kéo đi hơn 1 giờ trước khi nó được trả tự do. Trường hợp thứ hai, nếu những tuyên bố của Trung Quốc được chứng minh là đúng, sẽ chứng tỏ rằng Trung Quốc đã cố gắng khéo léo hơn nhằm tránh một cuộc đối đầu trực tiếp với Việt Nam. Bên cạnh việc cho rằng tàu Việt Nam đang hoạt động bất hợp pháp trên vùng biển mà Trung Quốc yêu sách, Bắc Kinh còn cố gắng biện minh cho hành động cắt dây cáp với lý do bảo vệ ngư dân và tàu cá Trung Quốc khỏi nguy hiểm.[44]

Huớng tới tương lai

Lợi ích cốt lõi?

Chủ nghĩa đa phương?

Đối phó với Mỹ

Trung Quốc nên năng động hơn trong việc khai thác tài nguyên?

Làm rõ đường chín đoạn?

Tiếp cận pháp lý?

Kết luận

Xem phần còn lại của văn bản tại đây: Chinese debates of SCS policy


[1] Sarah Raine, “Beijing’Singapore South Chine Sea Debate”, Survival, 53:5 (2011): 69-88.

[2] Ví dụ, xem Mingjiang Li, “Reconciling Assertiveness and Cooperation? China’s Changing Approach to the South China Sea Dispute,” Security Challenges, vol 6, no.2, (Winter 2010), pp.49-68; Michael D. Swaine, “Perceptions of an Assertive China,” China Leadership Monitor, No. 32, 2010; Ian Storey, “China’s Missteps in Southeast Asia: Less Charm, More Offensive,” China Brief, December 17, 2010; Sarah Raine, “Beijing’s South China Sea Debate,” Survival, 53:5 (2011): 69-88; and Edward Wong, “China Navy Reaches Far, Unsettling the Region,” New York Times, June 14, 2011.

[3] Michael D. Swaine & M. Taylor Fravel, “China’s Assertive Behavior; Part Two: The Maritime Periphery,” China Leadership Monitor, no. 35, 2011.

[4] Ji Peijuan, “zhongguo xu jiasu kaifa nanhai” [China needs to accelerate development in the South China Sea], National Defense Times, June 29, 2011.

[5] Phỏng vấn của tác giả với 10 học giả hàng đầu Trung Quốc vào tháng 5 và 6 năm 2011 tại Bắc Kinh và Thượng Hải.

[6] PLA Daily, August 13; Reuters, August 13; China Daily, August 13; xem thêm Willy Lam, “Hawks vs. Doves: Beijing Debates “Core Interests” and Sino-U.S. Relations,” China Brief, Volume 10, Issue17, August 19, 2010.

[7] Wang Xi, “zhongguo zai nanhai qiaomiao fanji meiguo ‘ruan e zhi’,” [China smartly fights back at American “soft containment”], National Defense Times, August 5, 2011.

[8] Ji Peijuan, “zhongguo xu jiasu kaifa nanhai” [China needs to accelerate development in the South China Sea], National Defense Times, June 29, 2011.

[9] Ví dụ, xem bình luận của người phát ngôn Bộ Ngoại giao ngày 21/9/ 2010 và 14/10/ 2010: http://www.fmprc.gov.cn/chn/sxh/tyb/fybt/jzhsl/t761090.htmhttp://www.fmprc.gov.cn/chn/sxh/tyb/fybt/jzhsl/t754554.htm , truy cập ngày 10/11/ 2011.

[10] Ding Gang, “nanhai wenti yuanhe hui bei chaore” [why the South China Sea issue has become so hot], People’s Daily, August 2, 2011

[11] Zhou Biao and Jiao Dongyu, “nanhai boyi xiyibu” [the next step in the South China Sea game], National Defense Times, August 17, 2011.

[12] Li Xiaokun, “Navigation in South China Sea ‘not a problem’”, China Daily, October 23, 2010.

[13] Zhang Jie, et al., “mei qiang tui nanhai wenti guojihua, yang jiechi qi bo xi lali ‘wailun’” [US forcefully pushes internationalization of South China Sea issue, Yang Jiechi uses seven arguments to counter Hillary’s “incorrect points”], Dongfang zaobao [oriental morning post], July 26, 2010.

[14] Liu Feitao, “shui shuo nanhai buneng “ziyou hangxing?” [who says there is no freedom of navigation in the South China Sea?], National Defense Times, November 12, 2010.

[16] Phỏng vấn của tác giả với các nhà phân tích ở Trung Quốc trong vòng hai năm qua.

[17] Long Siqi, “nanhai zai bu da, jiu meiyou jihui le” [no striking in the South China Sea now, no opportunity in the future], National Defense Times, October 3, 2011.

[18] Global Times, “Don’t take peaceful approach for granted,” October 25, 2011, http://www.globaltimes.cn/NEWS/tabid/99/ID/680694/Dont-take-peaceful-approach-forgranted.aspx, accessed December 10, 2011.

[19] South China Morning Post, July 30, 2010.

[20] South China Morning Post, July 30, 2010.

[21] Luo Yuan, “zhongguo zai nanhai wenti shang yijing yi ren zai ren” [China has tolerated time and again in the South China Sea issue], National Defense Times, June 20, 2011.

[22] Dingli Shen, “A Chinese Assessment of China’s External Security Environment,” China Brief Volume 11, Issue 5, March 25, 2011

[23] Zhang Jie, et al., “zhoubian anquan xingshi si da bianhua yu zhongguo duice” [four changes in regional security situation and China’s responses], shijie zhishi [world knowledge], issue 2, 2011, pp. 14-21.

[24] Shang Hao, “nanhai you cheng redian, zhongguo ying ruhe yingdui?” [South China Sea becomes a hotspot again, how should China respond?], huaxia shibao, June 6, 2011.

[25] Ji Peijuan, [China needs to accelerate development in the South China Sea].

[26] Zhuang Liwei, “nan zhongguo hai duice ying fucong zhanlue daju” [south china sea policy should follow the overall strategic situation], dongfang zaobao [oriental morning post], March 18, 2009.

[27] Yuan Huajie, “nanhai fengbo pinqi, zhongguo shishi ‘liang jian’,” [tensions in the South China Sea rise, China to show sword at the right moment], CASS bulletin, March 19, 2009.

[28] Tu Fei and Xu Xin, “zhongguo ying jianli guojia haishi weiyuanhui bao nanhai” [China should set up a state maritime commission to protect the South China Sea], National Defense Times, October 7, 2011.

[29] Zhang Jie, et al., [US forcefully pushes internationalization of South China Sea issue, Yang Jiechi uses seven arguments to counter Hillary’s “incorrect points”].

[31] Shang Hao, [South China Sea becomes a hotspot again, how should China respond?].

[32] Deng Yajun, “xin ba guo lianjun tumou guafen nanhai” [new group of eight countries plotting to divide the South China Sea], National Defense Times, August 3, 2011.

[33] Dai Bingguo, “jianchi zou heping fazhan daolu” [stick to a peaceful development road], People’s Daily, December 13, 2010.

[34] VNA, August 26.

[35] Ministry of Foreign Affairs of the People’s Republic of China, http://www.fmprc.gov.cn/chn/gxh/tyb/fyrbt/jzhsl/t834597.htm, accessed December 15, 2011.

[36] Global Times, July 20, 2011, http://world.huanqiu.com/roll/2011-07/1835028.html, accessed December 15, 2011. Trung Quốc tổ chức hội thảo về tự do hàng hải ở Biển Đông vào giữa tháng 12/2011 tại Hải Khẩu.

[37] Wang Muke, “zhongguo, nanhai hezuo de jiji tuidong zhe” [China: an active promoter of cooperation in the South China Sea], People’s Daily, August 2, 2011.

[38] Xinhua News Agency, http://news.xinhuanet.com/politics/2011-10/12/c_122144683.htm, accessed December 10, 2011.

[39] Ministry of Foreign Affairs of the People’s Republic of China, http://www.fmprc.gov.cn/chn/pds/gjhdq/gj/yz/1206_9/1207/t854349.htm, accessed December 12, 2011.

[40] Xinhua, August 31.

[41] Xinhua, September 1.

[42] Straits Times, “China pledges to be ‘good friend’,” November 19, 2011; Lianhe zaobao, “zhongguo zongli wen jiabao: fandui waibu shili jieru nanhai” [Chinese premier Wen Jiabao: China opposes the involvement of external forces in the South China Sea], November 19, 2011.

[43] Xinhua News Agency, http://news.xinhuanet.com/201111/19/c_111180192.htm?prolongation=1, accessed December 15, 2011.

[44] Ministry of Foreign Affairs of the People’s Republic of China,June 9, 2011, http://www.fmprc.gov.cn/chn/gxh/mtb/fyrbt/dhdw/t829297.htm, accessed December 10, 2011.

 

Nguồn: Li, Mingjiang (2012). “Chinese Debates of South China Sea Policy: Implications for Future Developments”, RSIS Working Papers, No. 239 (Singapore: S. Rajaratnam School of International Studies). >> PDF

Biên dịch: Hồ Hải Yến | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Download: Chinese debates of SCS policy

Comments

comments

Thông báo về các websites, groups, blogs GIẢ MẠO VangAnh và TTXVA

Các tình yêu ủng hộ VangAnh và TTXVA thật, tẩy chay và chống giả mạo nhé, thx!

Comments (1)
  1. vietha says:

    Việt Nam có sợ TQ?

    Tôi thấy lâu nay nhiều vị CCCĐ cứ hay tuyên truyền rằng VN là tay sai TQ, VN hèn sợ TQ, Vn không dám đưa kiện TQ ra tòa án QT. VN đàn áp những người biểu tính chống TQ là bênh TQ. Công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng là bán nước…?
    Các sự việc này xin lý giải như sau:

    1/ Việc đưa ra tòa án QT không phải chuyện đơn giản, VN chờ xem tình hình Philipine đi đến đâu trong vụ kiện để chon đúng thời cơ thích hợp sau đó mới quyết định hành động. “Ăn cơm đi trước lội nước theo sau” không nhất thiết coi là hèn được mà là khôn ngoan chứ?.

    2/ VN đàn áp người biểu tình chống TQ là vì VN lo ngại để cho biểu tình tự do thì lúc này chống TQ, nhưng lúc khác có thể quay ra chống chính quyền VN. Đơn giản thế thôi. Tôi xin ví dụ sốt dẻo vừa qua ở Thổ Nhĩ Kì, Lúc đầu đoàn biểu tình chỉ phản đối chính phủ phá công viên để xây nhà thương mại mà thôi, Tuy nhiên ngay sau đó lại diễn biến thành chống chính phủ, đòi thủ tướng phải từ nhiệm? Đối với những nước mà dân trí còn thấp thì thường hay như vậy. Theo quan điềm của VN là lo trước hậu họa còn hơn để sự việc sảy ra. Thế thôi.

    3/ Công Hàm Phạm Văn Đồng

    Tôi xin hỏi nếu giả sử hồi 1958 đó, ông Đồng ra công văn phản đối TQ về vấn đề biển đảo thì sẽ sảy ra chuyện gì?

    Xin thưa là TQ sẽ bao vây phong tỏa VN, sẽ ngăn cản VN giải phóng Miền Nam (thậm trí có thể gây hấn xâm chiếm cả Miền Bắc VN nữa). Vậy giữa mấy cái đảo ngoài khơi to hay cả một nửa nước to? Cái nào cần hơn? Tạm hy sinh cái nhỏ để được cái lớn thế là đúng hay sai?

    Ông Đồng gửi cái công văn lấp lửng đó là để lừa TQ, để TQ yên tâm mà giúp VN giải phóng Miền Nam. Nay giải phóng xong rồi sẽ dựa vào luật QT mà từ từ đòi lại. Thế là khôn ngoan, là tương kế tựu kế, là quái thủ, là tuyệt vời chứ?

    Vậy luật QT là gì? Xin thưa:

    - Vấn đề chủ quyền phải phân xử bằng hiệp định được ký kết giữa 2 nhà nước và phải được Quốc Hội thông qua mới là hợp pháp. Đây chỉ là cái công văn suông, mỗi chữ kí của thủ tướng thì đâu có giả trị gì?
    - Lúc đó Hoàng sa, Trường Sa là do VNCH chiếm giữ theo hiệp đinh Giơ ne vơ, Ông Đồng không có quyền phán xử cái mà ông không có. Thế cũng là bất hợp pháp.
    - Xét chủ quyền thì phải căn cứ vào các bằng chứng lịch sử chiếm giữ lâu dài của nhà nước. Các đời chúa Nguyễn của VN đã chiếm giữ quản lý hàng mấy trăm năm (Điều này TQ hoàn toàn không có).

    Vậy ông Đồng đưa một cái công văn bất hợp pháp cho TQ để đổi lấy sự ủng hộ Bắc VN tiên hàng giải phóng Miền Nam thì không phải là bán nước.

    Vậy xét cả lý lẫn tình VN đúng hơn TQ cả nghìn lần.

    Ngày nay , thế giới đã khác xưa, VN còn cả thế giới ủng hộ, thế nào rồi cũng đòi lại được Hoàng sa, và 6 cái bãi đá ở Trường Sa cho mà xem. Hãy đợi đấy.

    – Nói VN sợ TQ thì tại sao VN luôn phản đối và tố cáo TQ trên phương diện ngoại giao chính thống trên trường QT? Sợ sao dám tố cáo TQ xâm phạm chủ quyền VN?

    - Nói VN sợ TQ tại sao VN vẫn quan hệ với Nga, Ấn, Mỹ…để có hàng vài chục dàn khoan dầu khí ở vùng biển mà TQ coi là của TQ (trong đường lưỡi bò)? TQ đã dám làm gì đâu ngoài mỗi việc cho tàu cá cắt cáp năm nào và sau đấy VN tuyên bố tổng động viên quân sự sẵn sàng bảo về tổ quốc thì TQ tit ngòi liền?

    - Nói TQ không sợ VN tại sao khi TQ tuyên bố đấu thầu 9 lô dầu ở vùng biển VN nhưng đã hơn 2 năm nay TQ có dám khởi công cái nào đâu? Đố thằng TQ dám vào vùng biển VN mà khoan dầu đấy! (Nếu TQ không ngán VN thì nó đã thẳng thừng xông vào đất VN mà khoan dầu từ lâu rồi. Đúng không nào?)

    - Nói VN sợ TQ thì tại sao VN đã và đang ra sức củng cố quốc phòng, liên kết với Nga, Ấn Độ, Nhật, Mỹ để kìm chế TQ? Điều này thế giới người ta đã và đang nói đầy ra trên báo chí đài phát thanh, và các phương tiện đại chúng của thế giới? Chỉ có ai mù và điếc mới không nhận ra mà thôi

    TQ mạnh hơn VN thật nhưng khi từ xa đến cướp nước người ta, đánh nhau trên đất người ta thì lại hoàn toàn khác. VN với địa thế vô cùng lợi hại và có truyền thống kinh nghiệm chống toàn những kẻ ngoại xâm cỡ bự. VN quyết không sợ bất cứ thằng to đầu nào kể cả TQ! Tuy nhiên “còn nước còn tát” để cứu vãn hòa bình, VN có thể tạm nhịn TQ một vài lĩnh vực nhưng đó không phải là lĩnh vực căn bản và chỉ có giới hạn mà thôi.

    Thế giới ngày nay là một tổ hợp đầy mối quan hệ chằng chịt. Mỹ muốn kìm chế TQ, Mỹ lo TQ sẽ chiếm dần vai trò quyền lợi của Mỹ trên thế giới. Tuy nhiên Mỹ vãn không bỏ việc quan hệ với TQ để đem lại lợi ích KT cho mình. Nhật bản cũng tranh chấp với TQ nhưng 2 nước vẫn không từ mặt nhau mà vẫn quan hệ khai thác những mối lợi chung về KT…

    Cùng với trào lưu thế giới, chuyện đấu tranh với TQ ngoài biển Đông, VN quyết không khoan nhượng nhưng việc quan hệ ở các lĩnh vực khác như lĩnh vực KT thì VN vẫn tiến hành. Đó là xu hướng chung của thế giới ngày nay chứ không phải riêng VN!

    Ngày xưa vì thế giới chia làm 2 phe đối chọi nhau rõ ràng, có chiến tuyến hẳn hoi nên mới có chuyện người ở phe này thì cạch mặt không quan hệ gì với phe kia. Ngày nay đâu có chia ra phe phái rõ ràng nào đâu. Nếu có phe phái thì chỉ là phe phái về mổt vài lĩnh vực riêng biệt nào đó mà thôi, còn các lĩnh vực khác thì vẫn cùng nhau quan hệ hợp tác. Nói vậy các vị có hiểu đươc không?

    Cuối cùng tôi xin ví dụ về mối quan hệ Mỹ Trung vừa mới đây trong cuộc gặp nhau giữa Obama và Tập Cận Bình. Mỹ Trung “đối chọi” không khoan nhượng nhau về vấn đề Biển Hoa Đông (Nhật Bản), và vấn đề Biển Đông (Đường lưỡi bò,VN và mấy nước Asean) Nhưng Mỹ Trung “thỏa ước” với nhau về vấn đề không VK hạt nhân ở Bán đảoTriều Tiên và về vấn đề quan hệ thương mại. Hai lĩnh vực đấu tranh và hợp tác cùng song song tồn tại, cùng tiếp diễn hầu như không liên quan đến nhau. Chỗ nào đấu tranh thì cứ đấu tranh, chỗ nào hợp tac thì cứ hợp tác. Thế giới ngày nay là thế đấy, Quan hệ VN và TQ cũng không phải là ngoại lệ?./.





Tìm Tin Tức
diemtin

Điểm tin Thứ Tư 23/4/2014

Bản tin hàng ngày được đăng vào lúc 8h sáng Những tin tức nổi bật sẽ được post trực ...
Tin Nổi Bật Trong ngày
Find us on Facebook
nhansinh

Dự án quốc kỳ Việt Nam thế kỷ XXI

TTXVA.ORG Kể từ ngày 8 tháng 12 năm 2013, BBT TTXVA đã thiết lập kênh chia sẻ những ...
caubenhatban

Phát ngôn của quan chức Việt và bức thư tâm tình của cậu bé Úc

TTXVA.net Chắc hẳn chúng ta vẫn còn nhớ trận động đất kinh hoàng tại Fukushima Nhật Bản, tháng ...
students

Thế hệ Quả Dâu Tây của Đài Loan

TTXVA.net Trên Foreign Policy có bài viết: Taiwan's Squishy Youth Get Fierce (Những đứa trẻ "mong manh" của ...
Screenshot from 2014-04-03 15:29:32

Thư của Người Trong Cuộc‏

TTXVA.net   Kính chào BBT Thông tấn xã Vàng Anh Được biết trang web của TTX Vàng Anh rất có ...
naked-sushi2

Naked Sushi

                                                                                                                                               
BAUKIEN-BAOCHI

VIDEO Bầu kiên kêu oan đề nghị triệu tập nhân chứng quan trọng

    14h05': Hội đồng xét xử bước vào phòng xử án bắt đầu phiên xét xử buổi chiều. ...
NINHTHUAN-BIEUTINH-TITAN1

VIDEO NINH THUẬN BIỂU TÌNH KINH ĐỘNG TẤN CÔNG CẢNH SÁT CƠ ĐỘNG

TTXVA.NET       Trong vòng vài ngày qua nhiều video clip được người dân Ninh Thuận tự quay phim và ...
BIEUTINH-NINHTHUAN5

VIDEO NINH THUẬN BIỂU TÌNH TẠI UBND PHẢN ĐỐI BẮT DÂN

    Người dân phản ánh nguyên nhân biểu tình    
QUOCKY-TOA

VIDEO Bị tuyên án tù vì XÚC PHẠM QUỐC KỲ

      1. Án tù cho 2 kẻ xúc phạm Quốc kỳ Ngày 26/2, Tòa án nhân dân thị xã ...
Tin Nổi Bật Trong Tuần
DUONGSAT-GOLF

Tàu lửa chạy trong đường ray độc quyền

  “Trong báo cáo cuối năm có 97,5% số cán bộ, công chức ngành hoàn thành xuất sắc ...
PHAPLUAT-GIAOTHONG

Đinh tặc và chính sách ” rải đinh”

  Nhớ hồi năm 1990, chú em họ từ quê ra Hà Nội chơi. Mua được “Dream II” ...
CANBO-CONGCHUC

Trả công chức về cho… mẹ dạy

  Giờ thì các ông bà dân đen khỏi phải thắc mắc, khỏi phải thấy phận mình bé ...
dichsoi

Trẻ chết vì sởi, bình thường hay bất bình thường?

Những đứa trẻ bị bệnh sởi chỉ biết khóc cho đến lúc lịm đi rồi chết, không ...