Truyền thuyết Hồng Bàng và khát vọng độc lập tự cường của người Việt Nam

Published on September 23, 2013   ·   2 Comments

TTXVA.ORG

hongbang-tulap

 

Hồng Bàng bấy lâu được xem là giai đoạn sơ sử và hệ thống huyền thoại lập quốc của người Việt Nam. Nó bao gồm một số chứng tích khảo cổ, truyện kể dân gian và sự kiện được ghi chép trong sử sách ; nhưng sự mơ hồ vẫn còn đó và chưa ai khảo sát được hết đâu là huyền thoại, đâu là sự thực. Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, dưới ánh sáng khoa học và quan điểm tôn trọng sự thật, việc nhận diện vai trò của hệ thống truyền thuyết Hồng Bàng là cần thiết, nó giải thoát chúng ta khỏi những ảo vọng xưa cũ và mạnh dạn xác lập giá trị mới cho đất nước – con người Việt Nam.

Truyền thuyết Hồng Bàng kể lại những sự kiện lớn trong cộng đồng Bách Việt diễn ra từ năm 2879.TCN (Kinh Dương Vương dựng nước Xích Quỷ) đến năm 258.TCN (Hùng Duệ Vương trẫm mình xuống giếng, nhượng nước cho An Dương Vương), tính ra cách nay gần 5000 năm. Các truyện kể dân gian và dữ kiện ghi chép trong sử sách nhiều chỗ sai khác, nhưng đều nhận định, thời Hồng Bàng ban đầu có quốc hiệu Xích Quỷ, kinh đô tại Động Đình hồ, lãnh thổ bao gồm khu vực ngày nay là Hoa Nam và Bắc Bộ Việt Nam (tới hết đèo Ngang). Kinh Dương Vương (tên gọi Lộc Tục) là em Đế Nghi, họ là con Đế Minh – vị vua này cắt cử Đế Nghi làm vua phương Bắc (Trung Nguyên) và Kinh Dương Vương làm vua phương Nam (Bách Việt). Đến Sùng Lãm (con Kinh Dương Vương) thì lấy con gái Đế Lai (con Đế Nghi) – Âu Cơ – làm vợ. Âu Cơ thụ thai và sinh ra bọc trăm trứng, trăm trứng nở ra trăm con. 100 người con này chia 50 theo cha xuống biển – hình thành các nhóm Lạc Việt, 50 người con theo mẹ lên non – hình thành nhóm Âu Việt. Người con trưởng đóng đô tại vùng đất ngày nay là Việt Trì (Phú Thọ), đặt quốc hiệu Văn Lang. Vua được gọi là Hùng Vương, con vua được gọi là quan lang (nam) và mệ nàng (nữ), quan lại có Lạc hầuLạc tướng, quan cấp thấp là bồ chính, dân là Lạc dân và kẻ tôi tớ là xảo xứng. Cương vực Văn Lang bao gồm miền Bắc Việt Nam hiện nay và rất có thể một phần Quảng Tây (Trung Quốc). Nước Văn Lang tồn tại bên cạnh các nước khác của Việt tộc như Âu Việt, Mân Việt, Dương Việt, Thục Việt, Nam Việt, Điền Việt…

Theo nhiều nghiên cứu nhân chủng học nghiêm túc, thì các nhóm dân cư chỉ mới xuất hiện trên lãnh thổ Việt Nam hiện nay tối đa 2600 năm về trước. Cho nên, con số 4000 hoặc 5000 là bất khả tín, chưa kể có nhiều dấu hiệu chứng thực rằng, truyền thuyết Hồng Bàng chỉ là ý niệm sơ khai của tổ tiên người Việt Nam về buổi đầu lập quốc.

Về chính danh, truyền thuyết Hồng Bàng xuất hiện lần đầu trong sử sách Việt Nam thời điểm nửa cuối thế kỷ XIV – giai đoạn mạt Trần. Sách Việt Nam thế chí (越南世志) của danh sĩ Hồ Tông Thốc coi Hồng Bàng là thời khởi thủy của lịch sử Việt Nam, ngoài ra cũng có sách Đại Việt sử lược (大越史略) viết khoảng năm 1377 – 1388 cùng quan điểm. Các học giả đời sau đã căn cứ vào đó để xây dựng những bộ chính sử quy mô, như : Đại Việt sử ký toàn thư (大越史記全書, Quốc sử quán triều Lê), Việt sử tiêu án (Lê Quý Đôn), Đại Việt sử ký tiền biên (Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục (欽定越史通鑑綱目, Quốc sử quán triều Nguyễn), Việt Nam sử lược (Trần Trọng Kim), Việt sử thông luận (Lý Đông A)… Bắt đầu từ thời kỳ Liên bang Đông Dương, thuyết Hồng Bàng thị được đưa vào chương trình nghiên cứu – giảng dạy lịch sử (Quốc văn giáo khoa thư) và được sự kế thừa của ngành giáo dục Việt Nam Cộng hòa (trước đây) và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (hiện nay).

Tình trạng tài liệu : Các sách Đại Việt sử kýViệt Nam thế chí đều đã mất văn bản gốc, Đại Việt sử ký còn lại một số lời bình của Lê Văn Hưu được ghi lại trong Đại Việt sử ký toàn thư, sách Việt Nam thế chí còn bài tựa của Hồ Tông Thốc. Căn nguyên được hậu thế hiểu là cuộc xâm lược và chính sách cưỡng bức đồng hóa của triều Minh (Kỷ thuộc Minh, 1407 – 1427). Những cuốn sách còn lại đều ra đời trong hoặc sau thời Lê sơ nên còn nguyên vẹn. Tuy nhiên, theo giới nghiên cứu Hán Nôm, những sách như Đại Việt sử ký, Việt Nam thế chí không hề rời khỏi lãnh thổ Việt Nam. Tại sao vậy ?

Vào năm 1406, khi phát binh xâm lược Đại Ngu (quốc hiệu thời Hồ), Minh Thành Tổ ban sắc rằng : “Khi binh lính vào nước Nam, trừ các kinh Nho gia, kinh Phật, đạo Lão không thiêu hủy. Ngoài ra, tất cả sách vở, văn tự cho đến các loại văn tự ghi chép ca lý dân gian, hay sách dạy trẻ con học… đều đốt hết. Phàm những văn bia do Trung Quốc dựng từ xưa thì đều phải giữ cẩn thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá hủy tất cả, một chữ không để sót“. Nhưng sang năm 1407, Minh Thành Tổ lại ban chiếu : “Nhiều lần trẫm đã bảo các ngươi, phàm An Nam có văn tự gì, kể cả các câu hát dân gian… các bia dù dựng lên một mảnh, hễ nom thấy là phá hủy hết… Sách vở do quân lính bắt được phải ra lệnh đốt luôn, chớ được lưu lại“. Như vậy, chủ đích của triều Minh là hủy diệt những sách vở được ghi chép bằng loại chữ khác Hán và cho phép những sách vở được viết bằng chữ Hán từ trước được lưu hành rộng rãi – bởi người Trung Hoa thừa hiểu, thành tựu cao nhất của một nền văn minh hoặc một cộng đồng hùng cường là chữ viết. Dầu vậy, đạo quân đô hộ đã không nghiêm túc thi hành mệnh lệnh, buộc nhà vua phải hối thúc thêm ; chắc chắn rằng, họ nhận thấy di sản văn hóa khác Hán của người Việt Nam không được bao nhiêu, nói cách khác, chữ viết mà tổ tiên chúng ta sử dụng khi đó là Hán tự – triều Minh không thể tiêu hủy những văn tự thuộc về không gian văn hóa của mình được ; hơn nữa người Việt Nam thuần nông, thành tựu văn hóa có được chủ yếu do lưu truyền chứ không cần ghi chép, tính toán như người Trung Hoa – vốn có tính cách thương gia ! Một lý do khác để củng cố niềm tin về di cảo của Đại Việt sử ký, Việt Nam thế chí là những sách như An Nam chí lược (Lê Tắc), Nam Ông mộng lục (Hồ Nguyên Trừng) ghi chép rất nghiêm cẩn, rõ ràng về Việt Nam trước thời Kỷ thuộc Minh, ra đời trên đất Trung Hoa nhưng được chính người Trung Quốc bảo quản và hiện nay thành tư liệu quý để người Việt Nam tìm hiểu tổ tiên mình, gốc gác mình. Tất nhiên, hoàn toàn có thể bỏ qua khả năng người Trung Hoa cất giấu hoặc tiêu hủy các sách vở chữ Hán do người Việt Nam viết, bởi Trung Hoa là một nền văn minh lớn – nó lớn bởi hàm lượng tri thức và tinh thần tôn trọng giá trị tri thức, người Trung Hoa và cả các thế lực ngoại tộc bị Hán hóa không có nhu cầu hủy diệt những thành tựu văn hóa mà chỉ có thể bồi đắp.

Vậy, những sử sách trước Kỷ thuộc Minh có ghi chép về thời Hồng Bàng trốn ở đâu ?

Giai đoạn nửa sau thế kỷ XIV, khu vực Trung Nguyên rối loạn bởi sự suy yếu của triều Nguyên – một triều đại phát xuất từ thảo nguyên Mông Cổ (phía Bắc Trung Hoa), các thế lực chính trị – quân sự địa phương trỗi dậy và xung đột lẫn nhau. Năm 1368, sau khi dẹp xong các phe phái đối lập, Chu Nguyên Chương lên ngôi Hoàng đế tại Nam Kinh, sáng lập triều Minh và thực hiện xong công cuộc nhất thống Trung Hoa, triều Nguyên phải chạy lên mạn Bắc Sơn Hải Quan. Cùng thời gian đó, vua Chế Bồng Nga nước Champa liên tục cất quân đánh phá Đại Việt (ban đầu là đòi lại châu Ô, châu Lý, sau đó thì muốn trả thù những cuộc xâm lăng trước đây của Đại Việt vào đất Champa). Từ năm 1360 đến năm 1390, quân Champa nhiều lần ra vào lãnh thổ Đại Việt trước ánh mắt bất lực của vua tôi triều Trần, trong đó, có 4 lần đại quân Champa chiếm được kinh thành Thăng Long, buộc hoàng gia Trần phải chạy lên mạn Bắc sông Hồng. Triều Trần không còn chủ động trong các chính sách ngoại giao và nội trị được nữa, khắp nơi nông dân nổi loạn do bão lũ triền miên và mùa màng thất bát, từ phương Bắc thì triều Minh liên tục hạch sách hòng kiếm cớ xâm lược. Cho nên, đây là thời kỳ Đại Việt suy thoái trên mọi mặt, riêng đạo Phật – quốc giáo thời Lý, Trần – thì ngày càng tỏ ra hủ bại. Trong hai thế kỷ trước đó, giáo lý nhà Phật được xem là tư tưởng trị quốc và đối ngoại ổn vững, nay mất hiệu quả. Có nghĩa, tư tưởng Phật giáo đã trở nên lỗi thời, tình thế buộc các nhà cai trị Đại Việt phải tìm ra một hệ tư tưởng mới đủ khả năng nhất thống quốc gia và đẩy lui các nguy cơ có thể xóa sổ Đại Việt trên bản đồ Á Đông.

Xem xét truyền thuyết Hồng Bàng từ bản thể luận thì thấy : Hai yếu tố chủ đạo trong sự cấu thành quốc gia Việt Nam là huyền thoại bọc trăm trứng (vậy nên người Việt Nam gọi nhau là “đồng bào” – tức là cùng bọc), kết quả của mối tình Lạc Long Quân (cha Rồng – sống dưới nước) và Âu Cơ (mẹ Tiên – sống trên ngàn). Xét từ “Lạc” trong yếu tố “Lạc Việt”, theo giáo sư Vũ Thế Ngọc, lạc = lak/nak = rak (tiếng Mường) = nước (tiếng Kinh) ; như vậy, “Lạc Việt” chỉ những cư dân sống ở vùng trũng, quen trồng lúa nước và đánh bắt cá. Xét từ “Âu” trong yếu tố “Âu Việt”, âu = u = rú (tiếng Mường) = nú/núi = vú (cơ quan sinh dục cái) ; như vậy, “Âu Việt” chỉ những cư dân sống ở vùng cao, chuyên săn bắn và hái lượm. Triết lý âm dương song hành được đưa vào ý niệm giải thích nguồn gốc hình thành quốc gia và các dân tộc Việt Nam đã cho thấy, tổ tiên chúng ta xác nhận Việt Nam là sự tổng hòa của nhiều sắc dân, nhiều luồng văn hóa chứ không phải dân tộc thuần nhất với một bản sắc văn hóa. Và như thế, truyền thuyết Hồng Bàng thực chất là chủ thuyết chính trị sơ khai với ý định xác lập vị thế của nước Đại Việt trên địa đồ chính trị Á Đông. Cần chú ý rằng, ngay từ buổi đầu lập quốc, các nhà chính trị Việt Nam đã nhận thấy đất nước chúng ta không phải tự nhiên mà nó, nó là sự tập hợp những thành tố khác nhau, mà chủ yếu là vai trò của dân cư – văn hóa hai khu vực Trung Hoa, Đông Nam Á. Trong mối tương quan với các đế quốc Á Đông cùng thời, Đại Việt tự xác định mình có tầm vóc ngang hàng, cũng có bề dày lịch sử và bản sắc văn hóa. Khi chấp bút cuốn Việt Nam thế chí, Hồ Tông Thốc đã chắp nối các truyện kể vụn vặt trong dân gian và lồng ghép quan điểm chính trị của triều Trần thành hệ thống tư tưởng quốc gia phù hợp xu thế thời đại. Như vậy, đằng sau lớp truyện kể lấp lánh huyền thoại đẹp đẽ là một hệ tư tưởng quốc gia có độ bền thời gian và cũng có sức hấp dẫn quần chúng rất cao.

Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa năm 1956 nêu rõ, nước ta ở trên con đường giao thông và di dân quốc tế, có nghĩa, Việt Nam là một trong những điểm nút của một trong những dòng chảy dân cư – thương mại sôi động nhất thế giới, nó diễn ra liên tục và đến nay cũng không có dấu hiệu ngưng nghỉ. Cho nên, Việt Nam không phải dân tộc thuần nhất, mà là liên minh các dân tộc (con số chính xác hiện nay là 55) với nền văn hóa mở – có tính cách hội tụ nhiều bản sắc văn hóa. Lãnh thổ Việt Nam là lục địa mới (hiện nay vẫn chưa hình thành xong) có nhiều đầm lầy, sông ngòi chằng chịt với lưu lượng phù sa lớn ; trước thế kỷ XV, phương tiện giao thông chủ yếu là thuyền nhỏ (sự sa lầy của đạo quân Nguyên – Mông là minh chứng cho sai lầm khi quá lệ thuộc vào ngựa chiến và thuyền lớn). Với địa hình gồ ghề, chia cắt và ít có nơi đủ bằng phẳng để tập trung đông người thì việc gây dựng một nền văn minh lớn là bất khả thi, thực tế Việt Nam là cộng đồng văn hóa nhỏ, bản sắc cũng không đủ dày để tự vệ trước những cuộc xâm lăng văn hóa. Bởi vậy, trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, tự giam trong những ảo tưởng về quá khứ huy hoàng của đất nước là sai lầm. Cần phải thừa nhận tính chất Hán cũng như tính chất Ấn (khúc xạ qua Đông Nam Á) trong văn hóa Việt Nam, Trung Hoa và Đông Nam Á là hai thành tố chính tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam.

Trước Việt Nam thế chí, cuốn Đại Việt sử ký (hoàn thành năm 1272) của sử thần Lê Văn Hưu lấy sự kiện Triệu Vũ Đế dựng nước Nam Việt (203.TCN) là dấu mốc khởi thủy lịch sử Việt Nam, sau này, Bình Ngô đại cáo (平吳大誥) do Nguyễn Trãi viết năm 1428 có câu : “Tự Triệu Đinh Lý Trần chi triệu tạo ngã quốc / Dữ Hán Đường Tống Nguyên nhi các đế nhất phương” (Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập / Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương), có nghĩa, nhà Triệu được xem là triều đại đầu tiên của nước Việt Namlịch sử quốc gia Việt Nam bắt đầu từ Triệu Vũ Đế (cách nay 2200 năm). Phải có nguyên cớ thì những trước tác mang danh nghĩa tuyên ngôn của triều đại mới khẳng định như thế ! Cuốn An Nam chí lược (安南志略) của Lê Tắc thì coi An Dương Vương là vị vua đầu tiên của nước Việt Nam, giai đoạn trước An Dương Vương chép rất sơ sài và dẫn liệu từ sử sách Trung Hoa. Bởi vậy, việc hình dung về thời khởi thủy lịch sử Việt Nam thông qua sử sách là rất khó thuyết phục, lớp huyền thoại Hồng Bàng đa phần hoang đường và không nên được coi là lịch sử chính thống. Bản thể những truyền thuyết đó mang tính chất văn học nhiều hơn là sự thật lịch sử, nhưng trong nhiều thế kỷ, người Việt Nam chúng ta đã ôm ấp chúng vào giấc ngủ để rồi chìm đắm trong những ảo vọng cùng cực.

Sau khi phế vua Trần để lập nên triều Hồ (1400), Hồ Quý Ly đã tiến hành những cải cách kinh tế – giáo dục nhằm gia tăng sức mạnh quốc gia. Trong chính trị, do sự chèn ép không ngừng của triều Minh và cũng hiểu rằng Đại Việt chưa đủ nội lực chống đỡ nếu quân Minh tràn xuống, vị Hoàng đế này đổi quốc hiệu là Đại Ngu với ý định khiêm nhường, không tỏ ra độc lập ngang hàng với Trung Hoa nữa mà tự coi quốc gia mình vốn dĩ là một phần của Trung Hoa (quan điểm dòng dõi Ngu Thuấn). Chính sách này ít nhất cũng khiến triều Hồ giữ yên bờ cõi được 8 năm (từ 1400 đến 1407), trước khi triều Minh phát binh xâm lược và gồm thâu Đại Ngu vào lãnh thổ Trung Hoa.

Sự thất bại của triều Hồ đã cho thấy, triết lý trị quốc của Hồ Quý Ly không thức thời ; bởi sau hai thế kỷ độc lập, người Việt Nam đã tạo dựng được không gian văn hóa riêng biệt với Trung Hoa và ý thức chính trị tự chủ cũng theo đó trỗi dậy.

Xem thêm :
Khai phóng hay là chết ?
Có một Trần Trọng Kim khác…

Comments

comments

Tags:  , , , , , , , , ,

Thông báo về các websites, groups, blogs GIẢ MẠO VangAnh và TTXVA

Các tình yêu ủng hộ VangAnh và TTXVA thật, tẩy chay và chống giả mạo nhé, thx!

Comments (2)
  1. Lam Khanh says:

    Tôi thấy cái sử của TTXVA là có lợi cho tàu vì gián tiếp thừa nhận lịch sử của Việt nam không có gì, tổ tiên ta ăn lông ở lỗ bán khai và được văn hóa tàu khai phóng. Đây là loại sử vong nô.

  2. Lam Khanh says:

    Tôi nhận thấy cái sử của TTXVA là loại sử vong nô vì nó gián tiết tổ tiên của người Việt cách đây 5000 năn là không có và còn ăn lông ở lỗ. Cái sử này thừa nhận sự khai phóng của văn hóa tàu với dân Việt. Loại sử thừa nhận tổ tiên ta 5000 năm trước là ở trần đóng khố giống với ý đồ của các triều đại gọi là Đại Hán





Tìm Tin Tức
diemtin

Điểm tin Thứ Tư 23/4/2014

Bản tin hàng ngày được đăng vào lúc 8h sáng Những tin tức nổi bật sẽ được post trực ...
Tin Nổi Bật Trong ngày
Find us on Facebook
nhansinh

Dự án quốc kỳ Việt Nam thế kỷ XXI

TTXVA.ORG Kể từ ngày 8 tháng 12 năm 2013, BBT TTXVA đã thiết lập kênh chia sẻ những ...
caubenhatban

Phát ngôn của quan chức Việt và bức thư tâm tình của cậu bé Úc

TTXVA.net Chắc hẳn chúng ta vẫn còn nhớ trận động đất kinh hoàng tại Fukushima Nhật Bản, tháng ...
students

Thế hệ Quả Dâu Tây của Đài Loan

TTXVA.net Trên Foreign Policy có bài viết: Taiwan's Squishy Youth Get Fierce (Những đứa trẻ "mong manh" của ...
Screenshot from 2014-04-03 15:29:32

Thư của Người Trong Cuộc‏

TTXVA.net   Kính chào BBT Thông tấn xã Vàng Anh Được biết trang web của TTX Vàng Anh rất có ...
太陽花學運

Cách mạng Hoa Hướng Dương : Toàn cảnh

Làn sóng biểu tình của giới học sinh Đài Bắc bùng nổ ngày 18 tháng 3 năm ...
naked-sushi2

Naked Sushi

                                                                                                                                               
BAUKIEN-BAOCHI

VIDEO Bầu kiên kêu oan đề nghị triệu tập nhân chứng quan trọng

    14h05': Hội đồng xét xử bước vào phòng xử án bắt đầu phiên xét xử buổi chiều. ...
NINHTHUAN-BIEUTINH-TITAN1

VIDEO NINH THUẬN BIỂU TÌNH KINH ĐỘNG TẤN CÔNG CẢNH SÁT CƠ ĐỘNG

TTXVA.NET       Trong vòng vài ngày qua nhiều video clip được người dân Ninh Thuận tự quay phim và ...
BIEUTINH-NINHTHUAN5

VIDEO NINH THUẬN BIỂU TÌNH TẠI UBND PHẢN ĐỐI BẮT DÂN

    Người dân phản ánh nguyên nhân biểu tình    
Tin Nổi Bật Trong Tuần
DUONGSAT-GOLF

Tàu lửa chạy trong đường ray độc quyền

  “Trong báo cáo cuối năm có 97,5% số cán bộ, công chức ngành hoàn thành xuất sắc ...
PHAPLUAT-GIAOTHONG

Đinh tặc và chính sách ” rải đinh”

  Nhớ hồi năm 1990, chú em họ từ quê ra Hà Nội chơi. Mua được “Dream II” ...
CANBO-CONGCHUC

Trả công chức về cho… mẹ dạy

  Giờ thì các ông bà dân đen khỏi phải thắc mắc, khỏi phải thấy phận mình bé ...
dichsoi

Trẻ chết vì sởi, bình thường hay bất bình thường?

Những đứa trẻ bị bệnh sởi chỉ biết khóc cho đến lúc lịm đi rồi chết, không ...