‘Hoa thơm’ mỗi bộ, ngành hưởng một tý?

Published on May 21, 2013   ·   No Comments
  • Tại sao các đơn vị không có chức năng GD&ĐT lại cứ muốn giữ cho mình một số trường CĐ, ĐH? Phải chăng Bộ GD&ĐT không đủ năng lực quản lý? Câu hỏi này thật ra rất tế nhị và không phải ai cũng muốn trả lời.

Gần đây nhiều “đại gia” đang bị buộc phải thoái vốn đầu tư ngoài ngành theo chỉ đạo của Chính phủ. Câu hỏi đặt ra là ngành giáo dục có liên quan đến chuyện đầu tư ngoài ngành, có cần thoái vốn? Dễ nhận thấy với cấp bộ thì chuyện thoái vốn hình như chỉ là chuyện “của hàng xóm”.

“Đầu tư vào, “đầu tư” ra…

Các bộ có đầu tư ngoài ngành đâu mà thoái vốn? Đó chỉ là chuyện của các ngân hàng, tập đoàn, tổng công ty…, nhất là ngành GD, với kinh phí hạn hẹp làm gì có chuyện đầu tư ngoài ngành? Để tìm hiểu vấn đề này cần xem xét cả hai chiều: Các bộ, ngành khác đầu tư vào GD và ngành GD đầu tư ra ngoài như thế nào?

Theo số liệu trong “Danh sách các trường CĐ, ĐH công lập” công bố ngày 3/5/2013 [1], toàn quốc có  311 trường CĐ, ĐH, (trong đó CĐ có 181 trường, ĐH: 130 trường), không kể khối trường quân sự, công an). Trong danh sách Bộ GD&ĐT đã công bố luôn Bộ chủ quản của các trường CĐ, ĐH. Thống kê một vài đơn vị theo danh sách này được nêu trong bảng 1.

Bảng 1: Số trường và các đơn vị quản lý

Stt Đơn vị chủ quản ĐH Tỷ lệ quản lý (%)
1 Bộ GD& ĐT

3

37

12,86

2 Bộ Công Thương

23

8

9.97

3 Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch

7

12

6,11

4 Ủy ban nhân dân các tỉnh

111

22

42,77

5 ….. …. ……..

Nhìn vào bảng một, có thể thấy Bộ GD& ĐT chỉ quản lý chưa đến 13% số trường trên toàn quốc, trong khi Bộ Công Thương quản gần 10%, chính quyền cấp tỉnh quản tới 42,77%. Trừ số trường do Bộ GD&ĐT và các tỉnh quản lý, các bộ, tổng cục, tập đoàn … chiếm 44% tổng số trường CĐ, ĐH cả nước.

Thật khó có thể hình dung khi Bộ GD&ĐT quản lý các trường ĐH hàng đầu cả nước trong lĩnh vực công nghiệp là ĐH Bách Khoa Hà Nội, ĐH Bách Khoa t/p Hồ Chí Minh, ĐH Bách khoa Đà Nẵng nhưng lại không quản được các trường ĐH Công nghiệp mà Bộ Công thương đang quản.

Tương tự như vậy, Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên, ĐH SPKT t/p Hồ Chí Minh do Bộ GD&ĐT quản lý, trong khi ĐH SPKT Nam Định và ĐH SPKT Vinh (Nghệ An) lại do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội quản lý. Trong số 36 trường CĐ sư phạm, Bộ GD&ĐT chỉ quản ba trường, còn lại do địa phương quản lý.

Tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế đang diễn ra song song với quá trình cải cách GD, câu hỏi đặt ra là có nên yêu cầu các bộ, tổng cục… “thoái trường” cùng với với quá trình “thoái vốn” đầu tư ngoài ngành? Phải chăng GD là “hoa thơm” nên mỗi bộ, tỉnh phải được “ngửi” một tí?

Rõ ràng kinh phí dành cho GD& ĐT là từ nguồn ngân sách Nhà nước, các đơn vị không có chức năng GD& ĐT quản lý nhà trường là một lợi ích chứ “chẳng mất gì của bọ” nên tội gì nhả ra? Thậm chí, nắm trong tay một số trường CĐ, ĐH, lãnh đạo các cơ quan chủ quản còn có rất nhiều lợi ích mà chúng ta sẽ đề cập tiếp theo. Dù không đầu tư bằng tiền thì cũng phải đầu tư con người, phương tiện, cơ chế… Phải chăng đó không phải là đầu tư ngoài ngành? Phải chăng một trong những tiêu chí mà cải cách GD cần hướng tới là yêu cầu các bộ, tổng cục, ủy ban… phải “thoái trường” ngoại trừ một số “trường đặc biệt”?

Nhưng tại sao các đơn vị không có chức năng GD&ĐT lại cứ muốn giữ cho mình một số trường CĐ, ĐH? Phải chăng Bộ GD&ĐT không đủ năng lực quản lý? Câu hỏi này thật ra rất tế nhị và không phải ai cũng muốn trả lời.

Trước khi lý giải một vài nguyên nhân chúng ta thử xem ngành GD có đầu tư ra ngoài ngành không? Điều này lại liên quan đến một “nét đặc trưng”, đó là chức danh giáo sư (GS), phó giáo sư (PGS).

Ở các nước Âu Mỹ, GS không phải là một học hàm hay một chức danh khoa học mà là một chức vụgiảng dạy, thường do các trường ĐH tự chọn lựa và quyết định. Khi một người giữ chức vụ GS chuyển công tác sang lĩnh vực khác, họ không còn là GS nữa, có chăng chỉ còn một số ít được công nhận là GS danh dự. Tại Việt Nam GS, PGS được gọi là chức danh và được Nhà nước phong tặng, chẳng thế mà việc vinh danh lại được tiến hành ở Văn miếu Quốc Tử Giám.

Quyết định 20/2012/QĐ- TTg quy định để được phong GS, PGS ứng viên phải được bình xét qua ba vòng: “Hội đồng chức danh GS cơ sở, Hội đồng chức danh GS ngành, liên ngành và Hội đồng chức danh GS Nhà nước.”

Các bộ, ngành khác đầu tư vào GD và ngành GD đầu tư ra ngoài như thế nào? Ảnh minh họa

Nên thay “chức danh” bằng “chức vụ”?”Cửa ải” đầu tiên mà các ứng viên phải vượt qua là Hội đồng chức danh GS cơ sở. Hội đồng này gắn liền với các trường ĐH, viện nghiên cứu. Rõ ràng nắm trong tay một số trường ĐH, viện nghiên cứu là lợi thế lớn cho việc “phong hàm” của các “chức sắc”  bộ chủ quản.

Số liệu thống kê đến cuối năm 2011 cho thấy [2]: Cả nước có 1.432 GS, 7.750 PGS, tổng số giảng viên các trường CĐ, ĐH là khoảng 70.000 người, số GS chỉ chiếm 1% và PGS chiếm gần 5%  tổng giảng viên các trường CĐ, ĐH. Đầu năm 2013 con số này lại còn “thảm hại” hơn nữa, (theo Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam) [3], trong số 1.473 GS, 8.176 PGS cả nước, chỉ có 286 GS (chiếm 0,5%), 2.009 PGS (chiếm 3,37%) trên tổng số giảng viên CĐ, ĐH.

Theo một cách thống kê khác, thì trong số 9649 GS, PGS (tính đến đầu năm 2013) số người làm công tác giảng dạy là 2295 người, chiếm 23.8%. Hơn 3/4 số GS, PGS còn lại không phải là giảng viên, họ chỉ thực sự có chút “dây mơ rễ má”  với công tác đào tạo. Có người chỉ cần xin hướng dẫn một, hai nghiên cứu sinh cho đủ tiêu chuẩn phòng hàm, sau đó là “rửa tay gác kiếm”  lo việc khác. Đã có danh GS, PGS là được mang suốt đời, cần gì phải lóc cóc đi dạy vừa mất thời gian, lại không kiếm được bao nhiêu, đấy là còn chưa nói có người chưa chắc đã đủ năng lực trình bày một bài giảng trên bảng.

Giáo sư, PGS là “đặc sản” của ngành GD& ĐT. Với 76,2% GS, PGS “xuất khẩu” ra ngoài, có thể thấy ngành GD7 ĐT đã “đầu tư ngoài ngành” một cách “khủng khiếp” như thế nào.

Mất quyền điều khiển quá trình phong tặng chức danh GS, PGS vì ngành GD& ĐT chỉ quản lý chưa đầy 13%  tổng số trường CĐ, ĐH, nghĩa là quản chưa đầy 13% các Hội đồng chức danh GS cơ sở.

Một điều nữa có lẽ cũng cần phải báo động ngay từ bây giờ. Theo Luật GDĐH, chính quyền địa phương sẽ có đại diện tham gia Hội đồng quản trị các ĐH ngoài công lập. Việc xuất hiện thêm các GS, PGS là trưởng ban này, giám đốc nọ ở địa phương là điều hoàn toàn có thể tiên liệu. Đến lúc đó số lượng GS, PGS cần phải “thoái danh” không phải chỉ chiếm 1/3 như GS Hoàng Tụy nhận định [4].

Qua ba vòng từ cơ sở đến Hội đồng chức danh GS Nhà nước, mỗi năm vài trăm người sẽ đủ tiêu chuẩn và sẽ chờ được các trường ĐH, học viện bổ nhiệm. Số người xếp hàng sẽ ngày càng dài và với thói háo danh đã ăn sâu vào tiềm thức, việc chen ngang bằng mọi giá là điều chắc chắn sẽ xảy ra. Tại sao chúng ta lại làm một điều mà biết chắc là sẽ mang lại hậu quả xấu?

Tại sao lại để tới 7354 GS, PGS mà chẳng mấy khi họ “giáo” được ai, thậm chí có người còn chẳng biết “giáo” cái gì. Công nhận đạt tiêu chuẩn GS, PGS để làm gì nếu sau đó nhiều người được công nhận lại không được các trường ĐH bổ nhiệm? Đã đến lúc cần bãi bỏ khái niệm “chức danh” mà thay bằng khái niệm “chức vụ”. Tiếp đó có thể thực hiện quy trình ba bước sau đây:

– Các trường ĐH, học viện căn cứ vào nhu cầu đào tạo, công bố quyết định tuyển GS, PGS vào các bộ môn chuyên ngành cụ thể của đơn vị mình.

– Danh sách các ứng viên mà trường lựa chọn sẽ được Hội đồng thẩm định quốc gia kiểm tra, công nhận

– Các trường, viện ra quyết định bổ nhiệm những người đã được công nhận.

Làm được điều này có nghĩa là chấm dứt tình trạng xếp hàng chờ bổ nhiệm. Mặt khác nó cũng góp phần giảm bớt số lượng những người không phải là giảng viên khoác áo GS, PGS. Mặt khác cách làm này cũng tránh được tình trạng “lạm phát” GS, PGS vì còn có bước thẩm định của cấp trên.

Đương nhiên cách tốt nhất là để cho các trường tự chủ, khi đó các GS, PGS sẽ gắn liền tên mình với tên trường mà họ được bổ nhiệm. Đương nhiên lúc đó dư luận xã hội sẽ nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan những GS, PGS thuộc loại “tầm tầm” và tự khắc nhiều người sẽ không còn hãnh diện với cái hư danh đó.

Cải cách GD nếu không đi kèm quá trình “thoái trường” và “thoái danh” thì nền GDĐH Việt Nam mãi mãi vẫn chỉ là “cánh đồng 5 tấn”, hoa thơm mỗi bộ, ngành hưởng một tí.

Theo tuanvietnam

Comments

comments

Facebook đã xóa account giả mạo VangAnh & TTXVA

Thông báo về các websites, groups, blogs GIẢ MẠO

Các tình yêu ủng hộ VangAnh và TTXVA thật, tẩy chay và chống giả mạo nhé, thx!

Comments (0)




Quảng Cáo
diemtin

Điểm Tin Thứ Hai 30/03/2015

Bản tin hàng ngày được đăng vào lúc 8h sáng Những tin tức nổi bật sẽ được post ...
Find us on Facebook
Quảng Cáo
Tin Nổi Bật Trong ngày
Cờ Nhân Sinh

Dự án quốc kỳ Việt Nam thế kỷ XXI : Để cáo chung mâu thuẫn ý thức hệ và mở ra triển vọng hòa giải – thịnh vượng

TTXVA BIÊN TẬP Kể từ hồi 8 tháng 12 năm 2013, nhóm biên tập TTXVA đã thiết lập kênh ...
thochuctet

Bài thơ chúc Tết đan lồng vào nhau

  CUNG kính mời nhau chén rượu nồng CHÚC mừng năm đến, tiễn năm xong TÂN niên phúc lộc khơi ...
traitimvn

VIỆT NAM CẦN THAY ĐỔI QUỐC KỲ ĐỂ THỊNH VƯỢNG và HOÀ HỢP DÂN TỘC

LTS: Đất nước Việt Nam sẽ có những đổi thay lớn lao trong thời gian sắp tới. ...
vinhansinh-2014

Giấc mơ VangAnh

  CỜ NHÂN SINH MỪNG XUÂN 2014 CỜ NHÂN SINH MỪNG XUÂN 2013 Một phút trãi lòng: NIỀM TIN VÀO ...
L'heure du thé 2 (Mai Trung Thứ)

Bài bạt cho sách “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm tài nhân, bản dịch của giáo sư Đàm Quang Hưng

TTXVA BIÊN TẬP Nguyên văn : 文以載道。浮豔之辭、淫麗之言、是聖人所去、君子所賤、大丈夫所愧也。夫道之於人也、生則在人、亡則在書。 是以古人之所慎書。不敢妄作 、恐獻醜于後世 、乃見笑來者也。元晦之新民、伯安之啟蒙、皆以土音而教其徒。故文簡而質深。今人羊質虎皮 , 其違乎道遠矣。 我越文獻之邦也。自古無遜於中州。宋明之後、北方歸天驕之手。惟我南人、繼承華夏古風。皇阮大家、儒中之龍虎也。清人豈能相比。自世祖朝之後、作家林立。然而、士夫多未敢以國音為文。何也。是其輕薄南音耶。否、非若是也。是前人傳而不作之志耳。國文足以載道、何故以國音為文、離群立異、以求浮名焉。弘宗繼明、洋夷弄權已久、漢民難免傷風敗俗所變。於是始有真儒、甚曉文義、憂國主之辱、百姓之苦。遂乃棄絕虛學。赫然努力、以國音為文章。警世新書、言詞清簡、自天子以至愚夫愚婦、莫不能瞭解。當初多有佳作。至於阮公克孝、阮公伯卓、范公瓊、之等。誠有名家之風、足以為世範也。 乙未春、余之西郊、奉訪譚府。與譚公光興話及前朝遺事。先生年事已高、以丹奇異、故為忘年之交。先生原皇黎譚公忠憲之後。冠族世世戴皇恩。 祖父曩與渭城先生深交。余素里庸族、絕不能及。先生性放曠、惟其交好最為親敬、實有大越儒風、宛然猶昨。世云:「虎父生虎子」誠可信哉。先是、先生以余好古、因慨然給賜書籍、不知其數百卷。箇中、「金雲翹傳」甚為心得。此作也、原北國清心才人所作。其行于世久矣。我國素如先生嘗閱之、而後乃作長詩一篇、命其詩曰:「斷腸新聲」。今為吾民所共識。清心才人之原文埋沒久矣。近來、譚先生潛心譯成國音。非有功夫不能。 呼嗟、自阮末以來、我越之衰日甚。當朝怪事、傳笑四夷。識者、屈指可數也。如今、欲復國者、先必復國文也。今人多不知學、國音亦不淵通、而況國文乎。用此觀之、國文之不能載道亦可知矣。從今、先以國文補國音、然後以國音復國文。如此國運浸昌浸晟。昔者、尚之先生之六省、觀風察俗、視北國小說之盛行、委為無道之淫辭。然則、古人有云:「道在屎尿」。舉世寒峭、貂狐不亦燠乎。 乙未年春二月穀日 峭庵阮瑞丹越石氏再拜奉跛 Phiên âm : Văn dĩ tải Đạo. Phù ...
Đàn ông 3 (Vũ Ngọc Vĩnh)

Những giọt lệ

TTXVA BIÊN TẬP Một thi phẩm của tác giả Hàn Mặc Tử. Trời hỡi, bao giờ tôi chết đi ...
Le turban bleu (Mai Trung Thứ)

Dấu tích

TTXVA BIÊN TẬP Một thi phẩm của tác giả Hàn Mặc Tử. Trăng dầu sáng còn thua đôi mắt ...
Popular Posts
Государственный флаг Российской Федерации

National flags of Russia

TTXVA EDITS National flag of the Russian Federation (Государственный флаг Российской Федерации) is a tricolor flag consisting of ...
Magyarország zászlaja

Flags of counties of Hungary

TTXVA EDITS Hungary is subdivided administratively into 20 regions which are the 19 counties (megyék, singular : megye) ...
В мире животных

Screensaver from TV show “In the world of animals” by Gosteleradio, 1974

TTXVA EDITS In the world of animals (В мире животных) was Soviet and Russian TV program dedicated to ...
Mobile App đọc tin TTXVA